30. Khoản lãi hoặc lỗ từ các giao dịch mua các tài sản phi tiền tệ không cấu thành một doanh nghiệp, như được định nghĩa trong IFRS 3, cho công ty liên kết hoặc công ty liên doanh trong giao dịch đổi bằng lợi ích chủ sở hữu trong công ty liên kết hoặc công ty liên doanh đó sẽ được ghi nhận theo đoạn 28, trừ khi việc mua các tài sản đó không có bản chất thương mại, như được trình bày trong IAS 16 về Bất động sản, nhà xưởng và thiết bị. Nếu mua các tài sản này không có bản chất thương mại, lãi hoặc lỗ được coi là chưa thực hiện và không được ghi nhận trừ khi đoạn 31 cũng được áp dụng. Các khoản lãi và lỗ chưa thực hiện này sẽ được loại bỏ khỏi giá trị khoản đầu tư khi áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu và sẽ không được trình bày là lãi hoặc lỗ hoãn lại trong bảng cân đối kế toán hợp nhất hoặc trong bảng cân đối kế toán của đơn vị, khi khoản đầu tư được áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu.
31. Nếu ngoài việc nhận được lợi ích chủ sở hữu trong công ty liên kết hoặc công ty liên doanh, đơn vị nhận được tài sản tiền tệ hoặc phi tiền tệ thì đơn vị đó ghi nhận phần lãi hoặc lỗ của khoản đóng góp phi tiền tệ đầy đủ trong báo cáo lãi hoặc lỗ liên quan đến các tài sản tiền tệ hoặc phi tiền tệ nhận được.
31A.Khoản lãi hoặc lỗ do giao dịch “chiều xuôi” liên quan đến các tài sản cấu thành một doanh nghiệp, như được định nghĩa tại chuẩn mực IFRS 3, giữa một đơn vị (bao gồm các công ty con được hợp nhất) và công ty liên kết hoặc công ty liên doanh được ghi nhận đầy đủ trong báo cáo tài chính của nhà đầu tư.
31B.Một đơn vị có thể bán hoặc đóng góp tài sản theo hai hoặc nhiều hơn các thỏa thuận (các giao dịch). Khi xác định liệu tài sản được bán hoặc đóng góp có cấu thành một doanh nghiệp hay không, như được định nghĩa tại chuẩn mực IFRS 3, đơn vị sẽ xem xét việc bán hoặc đóng góp của các tài sản đó có phải là một phần của nhiều giao dịch hay không, giao dịch mà nên được coi là một giao dịch theo theo quy định tại đoạn B97 của chuẩn mực IFRS 10.
32. Một khoản đầu tư được ghi nhận bằng cách áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu kể từ ngày trở thành công ty liên kết hoặc công ty liên doanh. Tại thời điểm mua khoản đầu tư, bất kỳ khoản chênh lệch nào giữa chi phí đầu tư và phần giá trị hợp lý thuần giữa tài sản và nợ phải trả có thể xác định được của bên nhận đầu tư được ghi nhận như sau:
(a) Lợi thế thương mại liên quan đến công ty liên kết hoặc công ty liên doanh được bao gồm trong giá trị ghi sổ của khoản đầu tư. Không cho phép khấu hao lợi thế thương mạị.
(b) Bất kỳ phần vượt quá nào của phần giá trị hợp lý thuần giữa tài sản và nợ phải trả có thể xác định được của bên nhận đầu tư so với giá phí đầu tư được tính vào thu nhập trong việc xác định lãi hoặc lỗ của khoản đầu tư vào công ty liên kết hoặc công ty liên doanh trong kỳ mua khoản đầu tư.
Các điều chỉnh phù hợp với lãi hoặc lỗ của khoản đầu tư vào công ty liên kết hoặc công ty liên doanh sau ngày mua được thực hiện, ví dụ, khấu hao tài sản có thể khấu hao dựa trên giá trị hợp lý của chúng tại ngày mua. Tương tự, các điều chỉnh phù hợp đối với lãi hoặc lỗ của khoản đầu tư vào công ty liên kết hoặc công ty liên doanh sau ngày mua được thực hiện cho lỗ do suy giảm giá trị tài sản như lợi thế thương mại hoặc Bất động sản, nhà xưởng và thiết bị.
33. Báo cáo tài chính có sẵn gần nhất của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh được sử dụng bởi đơn vị trong việc áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu. Khi ngày kết thúc kỳ báo cáo của đơn vị khác với công ty liên kết hoặc công ty liên doanh, cho mục đích sử dụng của đơn vị, công ty liên kết hoặc công ty liên doanh chuẩn bị báo cáo tài chính cùng kỳ kế toán với báo cáo tài chính của đơn vị đó, trừ khi không thể thực hiện được điều đó.
34. Theo quy định tại đoạn 33, khi báo cáo tài chính của công ty liên kết hoặc liên kết liên doanh áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu được lập tại ngày khác với báo cáo tài chính của đơn vị, các điều chỉnh sẽ được thực hiện cho các giao dịch hoặc các sự kiện có ảnh hưởng đáng kể xảy ra giữa ngày kết thúc kỳ kế toán của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh và của đơn vị. Trong mọi trường hợp, sự khác biệt giữa ngày kết thúc kỳ báo cáo của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh và của đơn vị không quá ba tháng. Độ dài kỳ báo cáo và bất kỳ sự khác biệt nào giữa ngày kết thúc kỳ báo cáo sẽ giống nhau từ kỳ này sang kỳ khác.
35. Báo cáo tài chính của đơn vị được lập bằng cách áp dụng các chính sách kế toán thống nhất cho các giao dịch và sự kiện trong các trường hợp tương tự.
36. Ngoại trừ trường hợp như được trình bày trong đoạn 36A, nếu công ty liên kết hoặc công ty liên doanh sử dụng chính sách kế toán khác với đơn vị cho các giao dịch và sự kiện trong các trường hợp tương tự, các điều chỉnh được thực hiện để làm cho chính sách kế toán của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh phù hợp với các chính sách của đơn vị khi báo cáo tài chính của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh được sử dụng bởi đơn vị đó khi áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu.
36A.Mặc dù yêu cầu trong đoạn 36, nếu đơn vị không phải là một đơn vị quản lý quỹ đầu tư có lợi ích trong công ty liên kết hoặc công ty liên doanh là đơn vị quản lý quỹ đầu tư, thì khi áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu, đơn vị có thể chọn giữ nguyên xác định giá trị hợp lý của khoản đầu tư vào công ty con của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh được áp dụng bởi đơn vị quản lý quỹ đầu tư liên kết hoặc liên doanh. Việc lựa chọn này được thực hiện riêng cho từng đơn vị quản lý quỹ đầu tư liên kết hoặc liên doanh, vào ngày muộn hơn giữa các ngày:
(a) Đơn vị quản lý quỹ đầu tư liên kết hoặc liên doanh được ghi nhận ban đầu;
(b) Công ty liên kết hoặc công ty liên doanh trở thành đơn vị quản lý quỹ đầu tư; và
(c) Đơn vị quản lý quỹ đầu tư liên kết hoặc liên doanh trở thành công ty mẹ lần đầu.
37. Nếu công ty liên kết hoặc công ty liên doanh có cổ phần ưu đãi tích lũy chưa thanh toán được nắm giữ bởi các tổ chức khác ngoài đơn vị và các chủ sở hữu, đơn vị đó sẽ tính phần lãi hoặc lỗ của cổ phiếu sau khi điều chỉnh cổ tức cho cổ phiếu đó, cho dù cổ tức đó đã được công bố hay chưa.
38. Nếu phần lãi hoặc lỗ của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh phân bổ cho đơn vị bằng hoặc vượt quá lợi ích của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh, đơn vị đó dừng ghi nhận phần lỗ thêm. Lợi ích của công ty liên kết hoặc công ty liên doanh là giá trị ghi sổ/giá trị còn lại của khoản đầu tư vào công ty liên kết hoặc công ty liên doanh được xác định bằng phương pháp vốn chủ sở hữu cùng với bất kỳ lợi ích dài hạn nào, về bản chất, là một phần của khoản đầu tư thuần trong công ty liên kết hoặc công ty liên doanh. Ví dụ, một khoản mục mà việc thanh toán không được lên kế hoạch cũng như không có khả năng xảy ra trong tương lai có thể thấy trước, về bản chất, là một phần mở rộng của khoản đầu tư của đơn vị vào công ty liên kết hoặc công ty liên doanh. Các khoản mục này có thể bao gồm cổ phiếu ưu đãi và các khoản phải thu hoặc các khoản vay dài hạn, nhưng không bao gồm các khoản phải thu khách hàng, các khoản phải trả nhà cung cấp hoặc bất kỳ khoản phải thu dài hạn nào có tài sản thế chấp, như các khoản vay có bảo đảm. Các khoản lỗ được ghi nhận khi áp dụng phương pháp vốn chủ sở hữu vượt quá khoản đầu tư của đơn vị theo cổ phiếu phổ thông được áp dụng theo các phần khác của lợi ích đơn vị trong công ty liên kết hoặc công ty liên doanh theo thứ tự ngược lại của việc chậm trễ thanh toán (nghĩa là ưu tiên tính thanh khoản).
39. Sau khi lợi ích của đơn vị bị giảm xuống còn 0, các khoản lỗ phát sinh thêm và nợ phải trả được ghi nhận trong phạm vi mà đơn vị chịu nghĩa vụ pháp lý và nghĩa vụ ngầm định hoặc thực hiện thanh toán thay mặt cho công ty liên kết hoặc công ty liên doanh. Nếu công ty liên kết hoặc công ty liên doanh báo cáo lợi nhuận sau này, đơn vị tiếp tục ghi nhận phần lợi nhuận chỉ sau khi lợi nhuận của họ bằng với phần lỗ chưa được ghi nhận.