- Bài viết
- 479
- Được Like
- 0
Chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 7 - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một trong những chuẩn mực quan trọng của Hội đồng Kế toán Quốc tế (IASB), tập trung vào việc báo cáo các hoạt động tài chính không gian định của một doanh nghiệp. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ là một phần không thể thiếu trong bộ ba báo cáo tài chính (bao gồm báo cáo lãi/lỗ, báo cáo về vị thế tài chính và báo cáo lưu chuyển tiền tệ) và cung cấp thông tin chi tiết về các hoạt động tiền mặt của doanh nghiệp trong một khoảng thời gian cụ thể.
IAS 7 yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp một báo cáo về lưu chuyển tiền tệ, thể hiện các dòng tiền mặt từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Báo cáo này giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguồn gốc và sử dụng của tiền mặt trong doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin quan trọng cho các bên liên quan như nhà đầu tư, ngân hàng và các cơ quan quản lý.
Việc tuân thủ IAS 7 không chỉ là một nghĩa vụ pháp lý mà còn giúp đảm bảo tính minh bạch và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa ngày càng phát triển, báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ IAS 7 đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính xác và đáng tin cậy, hỗ trợ quyết định đầu tư và quản lý rủi ro hiệu quả.
Tìm hiểu chi tiết ở bài viết sau của Webifrs.
I. Mục đích
Thông tin về các dòng tiền của một đơn vị hữu ích trong việc cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính căn cứ để đánh giá khả năng mà đơn vị đó tạo ra tiền, các khoản tương đương tiền và nhu cầu của đơn vị sử dụng các dòng tiền này. Các quyết định kinh tế do những người sử dụng thông tin thực hiện đòi hỏi cần đánh giá về khả năng mà đơn vị tạo ra tiền, tương đương tiền cũng như thời gian và mức độ chắc chắn của khả năng đó.
Mục đích của chuẩn mực này là quy định việc cung cấp thông tin về những biến động trong quá khứ liên quan đến tiền và tương đương tiền của một đơn vị thông qua một báo cáo về các dòng tiền, trong đó phân loại các dòng tiền trong kì theo hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
II. Phạm vi
1. Một đơn vị phải lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ phù hợp với các quy định của chuẩn mực này và trình bày báo cáo đó như một phần của các báo cáo tài chính được lập cho mỗi kì.
2. Chuẩn mực này thay thế cho chuẩn mực kế toán quốc tế số 7 – Báo cáo về thay đổi tình hình tài chính, được phê chuẩn vào tháng 7 năm 1977.
3. Người sử dụng báo cáo tài chính của đơn vị quan tâm đến cách thức đơn vị đó tạo ra và sử dụng các khoản tiền và tương đương tiền. Đây là thực tế không phụ thuộc vào (không xét đến/không kể) bản chất các hoạt động của đơn vị, ngay cả khi tiền là sản phẩm của đơn vị đó, như trường hợp của các tổ chức tài chính. Các đơn vị cần tiền vì những lý do cơ bản như nhau ngay cả khi các hoạt động chủ yếu tạo ra doanh thu là khác nhau. Các đơn vị cần tiền để thực hiện các hoạt động, thanh toán các nghĩa vụ và chi trả lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Vì vậy, chuẩn mực này quy định tất cả các đơn vị phải trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
III. Lợi ích của thông tin về các dòng tiền
4. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, khi được sử dụng cùng với các báo cáo tài chính khác, sẽ cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá biến động về tài sản thuần của một đơn vị, cấu trúc tài chính của nó (bao gồm tính thanh khoản và khả năng thanh toán) và khả năng ảnh hưởng đến quy mô, thời gian của các dòng tiền nhằm thích ứng với những thay đổi của bối cảnh và cơ hội. Thông tin về các dòng tiền là hữu ích trong việc đánh giá khả năng mà đơn vị tạo ra các khoản tiền, tương đương tiền và giúp người sử dụng phát triển các mô hình đánh giá, so sánh giá trị hiện tại của các dòng tiền tương lai với các đơn vị khác. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng nâng cao khả năng so sánh của thông tin về hoạt động của các tổ chức khác nhau vì nó loại trừ ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán đối với các giao dịch và sự kiện tương tự.
5. Thông tin về dòng tiền quá khứ thường được sử dụng như một tín hiệu về quy mô, thời gian và tính chắc chắn của các dòng tiền tương lai. Thông tin này cũng hữu ích cho việc kiểm tra tính chính xác của những dự báo đã thực hiện về các dòng tiền tương lai và xem xét mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và dòng tiền thuần cũng như với tác động của biến động giá cả.
IAS 7 yêu cầu các doanh nghiệp phải cung cấp một báo cáo về lưu chuyển tiền tệ, thể hiện các dòng tiền mặt từ hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính. Báo cáo này giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguồn gốc và sử dụng của tiền mặt trong doanh nghiệp, đồng thời cung cấp thông tin quan trọng cho các bên liên quan như nhà đầu tư, ngân hàng và các cơ quan quản lý.
Việc tuân thủ IAS 7 không chỉ là một nghĩa vụ pháp lý mà còn giúp đảm bảo tính minh bạch và khả năng so sánh giữa các doanh nghiệp trên thị trường quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh nền kinh tế toàn cầu hóa ngày càng phát triển, báo cáo lưu chuyển tiền tệ từ IAS 7 đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin chính xác và đáng tin cậy, hỗ trợ quyết định đầu tư và quản lý rủi ro hiệu quả.
Tìm hiểu chi tiết ở bài viết sau của Webifrs.
I. Mục đích
Thông tin về các dòng tiền của một đơn vị hữu ích trong việc cung cấp cho người sử dụng báo cáo tài chính căn cứ để đánh giá khả năng mà đơn vị đó tạo ra tiền, các khoản tương đương tiền và nhu cầu của đơn vị sử dụng các dòng tiền này. Các quyết định kinh tế do những người sử dụng thông tin thực hiện đòi hỏi cần đánh giá về khả năng mà đơn vị tạo ra tiền, tương đương tiền cũng như thời gian và mức độ chắc chắn của khả năng đó.
Mục đích của chuẩn mực này là quy định việc cung cấp thông tin về những biến động trong quá khứ liên quan đến tiền và tương đương tiền của một đơn vị thông qua một báo cáo về các dòng tiền, trong đó phân loại các dòng tiền trong kì theo hoạt động kinh doanh, hoạt động đầu tư và hoạt động tài chính.
II. Phạm vi
1. Một đơn vị phải lập báo cáo lưu chuyển tiền tệ phù hợp với các quy định của chuẩn mực này và trình bày báo cáo đó như một phần của các báo cáo tài chính được lập cho mỗi kì.
2. Chuẩn mực này thay thế cho chuẩn mực kế toán quốc tế số 7 – Báo cáo về thay đổi tình hình tài chính, được phê chuẩn vào tháng 7 năm 1977.
3. Người sử dụng báo cáo tài chính của đơn vị quan tâm đến cách thức đơn vị đó tạo ra và sử dụng các khoản tiền và tương đương tiền. Đây là thực tế không phụ thuộc vào (không xét đến/không kể) bản chất các hoạt động của đơn vị, ngay cả khi tiền là sản phẩm của đơn vị đó, như trường hợp của các tổ chức tài chính. Các đơn vị cần tiền vì những lý do cơ bản như nhau ngay cả khi các hoạt động chủ yếu tạo ra doanh thu là khác nhau. Các đơn vị cần tiền để thực hiện các hoạt động, thanh toán các nghĩa vụ và chi trả lợi nhuận cho các nhà đầu tư. Vì vậy, chuẩn mực này quy định tất cả các đơn vị phải trình bày báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
III. Lợi ích của thông tin về các dòng tiền
4. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, khi được sử dụng cùng với các báo cáo tài chính khác, sẽ cung cấp thông tin giúp người sử dụng đánh giá biến động về tài sản thuần của một đơn vị, cấu trúc tài chính của nó (bao gồm tính thanh khoản và khả năng thanh toán) và khả năng ảnh hưởng đến quy mô, thời gian của các dòng tiền nhằm thích ứng với những thay đổi của bối cảnh và cơ hội. Thông tin về các dòng tiền là hữu ích trong việc đánh giá khả năng mà đơn vị tạo ra các khoản tiền, tương đương tiền và giúp người sử dụng phát triển các mô hình đánh giá, so sánh giá trị hiện tại của các dòng tiền tương lai với các đơn vị khác. Báo cáo lưu chuyển tiền tệ cũng nâng cao khả năng so sánh của thông tin về hoạt động của các tổ chức khác nhau vì nó loại trừ ảnh hưởng của việc sử dụng các phương pháp kế toán đối với các giao dịch và sự kiện tương tự.
5. Thông tin về dòng tiền quá khứ thường được sử dụng như một tín hiệu về quy mô, thời gian và tính chắc chắn của các dòng tiền tương lai. Thông tin này cũng hữu ích cho việc kiểm tra tính chính xác của những dự báo đã thực hiện về các dòng tiền tương lai và xem xét mối quan hệ giữa khả năng sinh lời và dòng tiền thuần cũng như với tác động của biến động giá cả.
Bài viết liên quan
Bài viết mới